Cơ bản
Giao ngay
Giao dịch tiền điện tử một cách tự do
Giao dịch ký quỹ
Tăng lợi nhuận của bạn với đòn bẩy
Chuyển đổi và Đầu tư định kỳ
0 Fees
Giao dịch bất kể khối lượng không mất phí không trượt giá
ETF
Sản phẩm ETF có thuộc tính đòn bẩy giao dịch giao ngay không cần vay không cháy tải khoản
Giao dịch trước giờ mở cửa
Giao dịch token mới trước niêm yết
Futures
Truy cập hàng trăm hợp đồng vĩnh cửu
TradFi
Vàng
Một nền tảng cho tài sản truyền thống
Quyền chọn
Hot
Giao dịch với các quyền chọn kiểu Châu Âu
Tài khoản hợp nhất
Tối đa hóa hiệu quả sử dụng vốn của bạn
Giao dịch demo
Giới thiệu về Giao dịch hợp đồng tương lai
Nắm vững kỹ năng giao dịch hợp đồng từ đầu
Sự kiện tương lai
Tham gia sự kiện để nhận phần thưởng
Giao dịch demo
Sử dụng tiền ảo để trải nghiệm giao dịch không rủi ro
Launch
CandyDrop
Sưu tập kẹo để kiếm airdrop
Launchpool
Thế chấp nhanh, kiếm token mới tiềm năng
HODLer Airdrop
Nắm giữ GT và nhận được airdrop lớn miễn phí
Launchpad
Đăng ký sớm dự án token lớn tiếp theo
Điểm Alpha
Giao dịch trên chuỗi và nhận airdrop
Điểm Futures
Kiếm điểm futures và nhận phần thưởng airdrop
Đầu tư
Simple Earn
Kiếm lãi từ các token nhàn rỗi
Đầu tư tự động
Đầu tư tự động một cách thường xuyên.
Sản phẩm tiền kép
Kiếm lợi nhuận từ biến động thị trường
Soft Staking
Kiếm phần thưởng với staking linh hoạt
Vay Crypto
0 Fees
Thế chấp một loại tiền điện tử để vay một loại khác
Trung tâm cho vay
Trung tâm cho vay một cửa
Thời cổ đại Trung Quốc, người Hán cũng biết hát biết múa. Nhưng tại sao trong thời hiện đại, 55 dân tộc thiểu số đều biết hát biết múa, còn người Hán chỉ biết khoe khoang? Vào thời Xuân Thu Chiến Quốc, trong "Thơ Kinh" có ghi lại nhiều bài dân ca, rất nhiều là do dân chúng hát múa trong lúc lao động hoặc lễ hội, như bài tình ca "Quan Quan Ô Kê, tại Hà Chi Châu" có thể có những cảnh hát múa ứng khẩu ở phía sau. Đến triều đại Đường, điệu múa "Nhi Trang Ngọc Y" trong cung đình đẹp đến hoa mắt, các vũ cơ mặc váy lụa mỏng, cùng với đàn hồ cầm và đàn tỳ bà múa lượn, ở dân gian cũng có lễ hội đèn hoa, múa lân trong các hoạt động xã hội, thật sôi động. Trong triều đại Tống, các quán trà, các đoàn kịch thời Nguyên Minh, các lễ hội trong triều đại Thanh, người Hán chưa bao giờ thiếu hát múa, điệu hát trống ở Sơn Đông, múa lân ở Giang Nam, đâu phải không có những cuộc vui ca múa? Nhưng đến thời hiện đại, sao có cảm giác người Hán "không biết múa"? Cuối triều Thanh đầu Dân Quốc, tư tưởng Nho giáo coi "lễ" quan trọng hơn mọi thứ, nhấn mạnh "không hành động nếu không có lễ", như phụ nữ lộ diện múa, dễ bị gán cho cái mũ "không đứng đắn". Ví dụ, các tiểu thư cuối triều Thanh muốn học điệu múa phóng khoáng của triều đại Đường? Chẳng có cửa! Phải cúi đầu ngoan ngoãn, giữ "đạo đức nữ giới". Điều này khiến nhiều điệu hát múa dân gian dần dần trở nên thu hẹp, chỉ còn lại những màn trình diễn riêng tư hoặc trong phạm vi nhỏ. Ngược lại với các dân tộc thiểu số, như dân tộc Uyghur ở Tân Cương, trong các buổi tiệc múa Mại Tư Lai Phu, nam nữ già trẻ quây quần bên đống lửa vừa hát vừa nhảy, tự do phóng khoáng; điệu múa công phượng của dân tộc Dai ở Vân Nam, động tác mở cánh của phượng hoàng đẹp như tranh, đâu cần gì quy tắc lễ giáo? Họ sống ở vùng xa xôi, Nho giáo không thể quản lý được, hát múa trở thành phần đời thường. Vào giai đoạn đầu của Trung Quốc mới thành lập, đặc biệt là từ 1949 đến thập niên 1970, trên toàn quốc tôn vinh phong cách "vải thô", đồng phục "Mao" màu xám, xanh, lục gần như chiếm lĩnh thị trường, khuyến khích "khó khăn giản dị", trang phục sặc sỡ bị coi là "xa hoa tư sản", trang phục múa dân gian của người Hán bị thay thế bằng áo xanh vải thô, múa không còn vẻ vui tươi, dần dần mất đi sức hút. Điều này cũng đóng góp lớn vào sự suy giảm văn hóa hát múa của người Hán. Chính phủ lúc bấy giờ thúc đẩy "đoàn kết dân tộc", trong khi các dân tộc thiểu số, điệu múa của họ lại được miễn trừ khỏi ràng buộc về trang phục đơn điệu này vì "đặc trưng dân tộc".